Cây Chanh Chúc – Cây Chanh Thái


Cây Chanh Chúc – hay còn gọi là Cây Chanh Thái, Chanh lá số 8… có nguồn gốc ở vùng Đông Nam Á. Cây có quả và lá thường dùng làm gia vị trong các món ăn hàng ngày và sử dụng trong các nhà hàng từ bình dân đến cao cấp. Vị của nó nồng hơn cây chanh thường đến 3-5 lần. Cây chanh Thái có tinh dầu rất thơm nên được ứng dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực từ ẩm thực, dược phẩm đến mỹ phẩm, trong đó bộ phận được sử dụng nhiều nhất trên cây là lá, và quả.

Cùng Khu Vườn Xanh tìm hiểu về loài cây này nhé.

Cây chanh chúc
Cây chanh chúc

Xem thêm:

Đặc điểm của cây Chanh Chúc – Cây chanh lá số 8

Đặc điểm chung

  • Tên khoa học: Kaffir Lime
  • Tên gọi khác: Cây chanh Thái, Cây Chanh Lá số 8, Cây Chúc, Chúc Thơm, Chanh Não Người, chanh Kaffir, chanh Kieffer, chanh Makrut, hoặc chanh Magrood, (Bai Ma-gkood, PewMa-gkrood).
  • Họ: Chanh
  • Nguồn gốc: từ vùng Đông Nam Á. Cây là một giống lai tạo tự nhiên giữa loài Ichang Papeda và loài Citron họ chanh. Ở Việt Nam, cây được biết đến như là đặc sản của vùng núi Thất Sơn (An Giang). Chanh Chúc là một loài chanh bản địa của Lào, Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Philippines và Việt Nam. Nó được sử dụng phổ biến trong ẩm thực Đông Nam Á, đặc biệt là trong ẩm thực Thái Lan.
Cây Chanh Chúc
Cây có nguồn gốc Đông Nam Á và có nhiều tên gọi khác như Chanh Thái, Chúc Thơm, Chanh Não Người…

Đặc điểm hình thái

  • Cây Chúc ở vùng Bảy núi này nhìn gần giống như cây chanh nhưng vỏ ngoài thì sần sùi. Lá Chúc to hơn lá chanh và vị của nước quả trúc thì chua hơn vị nước của chanh.
  • Cây Chúc gần giống cây chanh, cây cho quả có lớp vỏ xù xì và nước cốt chua hơn nước chanh. Bên cạnh đó, lá Chúc cũng to hơn lá chanh, mùi nồng hơn lá chanh và vị cũng gắt hơn.
  • Chanh chúc là cây thân gỗ có độ cao từ nhỏ đến trung bình, cây trưởng thành có thể cao từ 2m đến 10m. Thân cây có gai ngang.
  • Lá xoan xoan thuôn hay ngọn giáo, mép khía răng hay nguyên, chóp tròn hay lõm, có khi nhọn, màu xanh thẫm thùy kép, mọc đối, cuống lá có cánh rất rộng, có khi cũng to bằng phiến lá (tạo nên hình lá gần tương tự số 8 nên còn được gọi với tên “lá chanh số 8”), lá có tinh dầu, mùi thơm nồng.
  • Quả Chúc là loại cây sống ở vùng đồi núi cùng họ với chanh, quả có vị chua dùng để lấy nước, đặc biệt có mùi thơm giữ rất lâu. Thông thường trồng cây Chúc từ 5 đến 8 năm mới cho quả, một năm một lần vào mùa mưa, năng suất rất thấp khoảng 150-200 trái mỗi cây, từ 8 đến 10 trái một kg. Cây chúc càng lâu năm trái càng sai.
quả và lá cây chứa nhiều tinh dầu thơm và vị gắt hơn chanh nhiều lần
quả và lá cây chứa nhiều tinh dầu thơm và vị gắt hơn chanh nhiều lần

Công dụng của cây Chanh Chúc – Cây Chanh Thái

Công dụng trang trí

  • Với đặc tính dễ trồng, phát triển nhanh và sức sống khỏe, hiện nay Chúc Thái được nhiều người trồng để làm cây cảnh, trang trí nội ngoại thất, sân vườn.
Cây Chanh Chúc
Cây trồng trang trí trong phòng

Công dụng làm gia vị trong thực phẩm

  • Mùi thơm của lá chanh Thái mạnh gấp năm lần chanh thường, lời khẳng định của các đầu bếp cũng phần nào nói lên công dụng của cây Chúc Thơm này trong chế biến thực phẩm, món ăn.
  • Lá chanh Thái có vị the như lá chanh ta nhưng thơm nồng và gắt hơn, kích thích mạnh khứu giác và dịch vị người ăn, giúp khử tanh những món chứa độ đạm cao như bò, gà, lươn, rắn và trợ tiêu hóa.
  • Lá, quả chanh Chúc rất hợp với các món hấp, luộc hay chế biến nước chấm, nhất là các món của Thái Lan. Lá Chúc lại không bị đắng và không mất hương dù nấu lâu nên lại càng được ưa chuộng hơn.
Chanh Chúc dùng làm gia vị trong món gà hấp lá Chúc
Chanh Chúc dùng làm gia vị trong món gà hấp lá Chúc

Công dụng trong y học

  • Tinh dầu từ lá, vỏ trái thơm nồng nên còn được dùng để khử mùi nước, làm sạch và tạo hương cho nước uống. Ngoài ra, vỏ trái và lá còn được dùng làm dược liệu trị tiêu hóa, thông cổ…
  • Dùng ít vỏ ngậm vào miệng tăng vị thơm thơm (hương thơm mạnh hơn kẹo sin-gum). Thông cổ, chống buồn nôn rất hay.
  • Có thể khử mùi cho xe hơi tăng hương thơm.
  • Kinh nghiệm dân gian còn dùng trái khử khuẩn ao nuôi cá, trị bệnh cho gia cầm, gia súc…
  • Quả cũng thường được ngâm rượu làm thuốc chữa đau bụng hay cảm mạo, gội đầu trị gàu hay tắm rửa, chiết xuất tinh dầu làm mỹ phẩm.

Công dụng khác

  • Nước từ trái được dùng làm xà phòng giặt đồ ở Thái Lan, và ờ Cambodia người ta còn dùng một vài lát chúc bò vào nước cúng trong các nghi lễ tôn giáo.

Cách trồng và chăm sóc Cây Chanh Chúc – Cây Chúc Thơm

Cách trồng Cây Cây Chanh Chúc – Cây Chúc Não Người

  • Phương pháp nhân giống: có 3 cách khác nhau để trồng được loài hoa này đó là gieo hạt, ghép cành và chiết cành.
  • Thời vụ trồng tốt nhất là vào mùa mưa để cây phát triển tốt và đỡ công tưới ban đầu. Đối với miền Bắc trồng vào 2 vụ chính vụ Xuân và vụ Thu. Miền Trung và miền Nam có thể trồng vào mùa Xuân, cuối mùa khô, đầu mùa mưa.
Cây Chanh Thái giống
Cây Chanh Thái giống

Cách chăm sóc Cây Đào Thất Thốn – Cây Đào Tiến Vua

Cây Chúc rất dễ trồng, không cần chăm sóc vẫn phát triển tốt. Đây là cây có múi thích nghi tốt trong thời kỳ biến đổi khí hậu khắc nhiệt. Tuy vậy, bạn cần lưu ý một số yếu tố để cây có thể sinh trưởng một cách thuận lợi nhất. Cụ thể:

  • Về ánh sáng: Cây thuộc loại cây ưa sáng, cũng có thể trồng cây dưới ánh sáng bán phần. Tuy vậy, để cây phát triển tốt và ra nhiều quả cần cung cấp đầy đủ ánh sáng cho cây.
  • Về nước tưới: cần cung cấp đủ nước cho cây nhất là trong mùa khô, khi trái đang lớn và lúc quả sắp chín.
  • Về đất trồng: Về đất trồng cây chanh Thái cũng không kén chủ yếu phải đảm bảo độ tơi xốp và nhiều mùn, thoát nước tốt. Đặc biệt chú ý không để cây chanh ngập úng và mặn.
  • Nhiệt độ: cây thích nghi ở nhiệt độ từ 25 đến 28 độ C.
  • Độ ẩm: Cây ưa độ ẩm trung bình khoảng 60-75%.
  • Phân bón: Bón lót phân chuống vào hố trước : Phân chuồng hoai mục: 20-30 kg; phân lân 0,5 kg; kali 0,1kg; vôi bột 1 – 1,5 kg.Trộn đều lượng phân với đất, dùng cuốc phá thành hố sau đó rải vôi lên mặt hố và lấp đất mỏng. Tiếp đó bơm nước vào đầy hố, khoảng 10-15 ngày sau là trồng được. Sau khi câu phát triển ổn định, bón phân định kỳ 2-3 tháng 1 lần cho cây.
  • Sâu bệnh: Cây thường gặp các loại sâu vẽ bùa, rầy mềm, nhện đỏ hay bệnh ghẻ… Những loại sâu này thường gây hại vào giai đoạn ra lá non. Phòng trừ bằng cách bắt hoặc phun thuốc bảo vệ thực vật là được. Phòng trừ cỏ dại: Phủ gốc chè bằng cỏ, rác, cây phân xanh… để hạn chế cỏ dại; xới phá váng sau mỗi trận mưa to. Làm cỏ vụ xuân tháng 1-2 và vụ thu tháng 8-9, xới sạch toàn bộ diện tích một lần/vụ; một năm xới gốc 2-3 lần.
  • Cắt tỉa: Hạn chế cành vượt, loại bỏ những cành già cỗi sâu bệnh, giúp cây thông tháng, có dáng đẹp, tăng khả năng quang hợp và cây phát triển cân đối đủ sức mang quả.

Ý kiến bạn đọc (0)

© 2020 Khuvuonxanh.net. Thiết kế Website bởi MCOM.
Quay lại đầu trang